Showing posts with label kháng sinh. Show all posts
Showing posts with label kháng sinh. Show all posts

Đại cương bệnh tả và cách chẩn đoán, điều trị!

Hôm nay khoa mình đã có trường hợp đầu tiên cấy phân có phẩy khuẩn tả, như thế là khu vực hà nội là khu vực đầu tiên có người phát hiện tả theo như mình biết! nhân tiện kiếm được cái hướng dẫn chẩn đoán và điều trị , đưa lên để các Googler có thêm chút thông tin!
NHƯNG XIN NÓI TRƯỚC: TẤT CẢ THÔNG TIN NÀY CHỈ LÀ ĐỂ THAM KHẢO, NẾU BẠN BỊ BỆNH HÃY TÌM MỘT BÁC SĨ!

Bé Y tÕ
Céng hoµ x· héi chñ nghÜa ViÖt Nam
§éc lËp- Tù do- H¹nh phóc

H­íng dÉn
ChÈn ®o¸n, ®iÒu trÞ bÖnh t¶
(Ban hµnh kÌm theo QuyÕt ®Þnh sè: 4178/Q§-BYT
ngµy 31 th¸ng 10 n¨m 2007 cña Bé tr­ëng Bé Y tÕ)
 

Bệnh tả (cholerae) là một bệnh truyền nhiễm cấp tính, gây dịch đường tiêu hoá do phẩy khuẩn tả Vibrio cholerae gây ra. Biểu hiện chủ yếu bằng nôn và tiêu chảy với số lượng lớn dẫn đến mất nước và điện giải trầm trọng, gây sốc nặng. Nếu không được điều trị kịp thời sẽ dẫn đến tử vong.
Trước đây bệnh tả đã gây những đại dịch lớn, gây tử vong hàng triệu người. Hiện nay, bệnh tả đã được khống chế ở nhiều nơi nhưng vẫn còn xảy ra dịch ở các nước châu Phi và một số nước châu Á. Ở Việt Nam bệnh tả vẫn còn xảy ra những trường hợp tản phát, thường vào mùa hè ở các tỉnh ven biển.

I. CĂN NGUYÊN
- Vibrio cholerae là vi khuẩn cong hình dấu phẩy, Gram âm, di động nhanh nhờ có một lông, có khả năng tồn tại trong nước và thức ăn khoảng một tuần. Vi khuẩn có thể tồn tại nhiều năm trong các động vật thân mềm ở vùng ven biển. Vi khuẩn tả dễ bị tiêu diệt bởi nhiệt độ và các chất diệt khuẩn thông thường. Vi khuẩn tả rất dễ mọc trong môi trường pepton kiềm mặn.
- Nhóm huyết thanh O1 của V. cholerae hay gây bệnh nhất, bao gồm hai sinh týp (biovar) là V. cholerae biovar cholerae và V. cholerae biovar El Tor; V. cholerae sinh ra ngoại độc tố ruột LT (thermolabile toxin); độc tố ruột gắn vào niêm mạc ruột non, hoạt hoá enzyme adenylcyclase dẫn đến tăng AMP vòng, làm giảm hấp thu Na+, tăng tiết Cl- và nước gây tiêu chảy cấp tính. Ngoài ra, V. cholerae O139 được phát hiện vào năm 1993 ở Ấn Độ và đã gây ra nhiều vụ dịch tả ở Bangladet, Campuchia... trong những năm gần đây.

II. CHẨN ĐOÁN
1. Chẩn đoán xác định
a) Lâm sàng
- Thời kỳ ủ bệnh: Từ vài giờ đến 5 ngày.
- Thời kỳ khởi phát: Biểu hiện bằng sôi bụng, đầy bụng, tiêu chảy vài lần.
- Thời kỳ toàn phát
+ Tiêu chảy liên tục rất nhiều lần với khối lượng lớn, có khi hàng chục lít một ngày. Phân tả điển hình toàn nước, màu trắng lờ đục như nước vo gạo, không có nhầy máu.
+ Nôn, bệnh nhân nôn rất dễ dàng, lúc đầu ra thức ăn, sau toàn nước.
+ Bệnh nhân thường không sốt, ít khi đau bụng.
+ Tình trạng mất nước và điện giải gây mệt lả, chuột rút...
Bảng 1. Các mức độ mất nước
Các dấu hiệu
Mất nước độ 1
Mất nước độ 2
Mất nước độ 3
Khát nước
Ít
Vừa
Nhiều
Tình trạng da
Bình thường
Khô
Nhăn nheo, mất đàn hồi da, mắt trũng
Mạch
< 100 lần/phút
Nhanh nhỏ (100-120 lần/phút)
Rất nhanh, khó bắt (> 120 lần/phút)
Huyết áp
Bình thường
< 90 mmHg
Rất thấp, có khi không đo được
Nước tiểu
Ít
Thiểu niệu
Vô niệu
Tay chân lạnh
Bình thường
Tay chân lạnh
Lạnh toàn thân
Lượng nước mất
5-6% trọng lượng cơ thể
7-9% trọng lượng cơ thể
Từ 10% trọng lượng cơ thể trở lên
- Thời kỳ hồi phục: Bệnh diễn biến từ 1-3 ngày nếu được bù đủ nước và điều trị kháng sinh.
b) Cận lâm sàng
- Soi phân: Giúp chẩn đoán nhanh. Có thể soi phân dưới kính hiển vi nền đen sẽ thấy phẩy khuẩn tả di động mạnh. Nhuộm Gram thấy hình ảnh phẩy khuẩn không bắt màu Gram.
- Cấy phân:
+ Phải lấy phân sớm khi xuất hiện tiêu chảy lần đầu tiên và trước khi điều trị.
+ Nên dùng ống thông lấy phân qua hậu môn tốt hơn. Trường hợp phải gửi bệnh phẩm đi xa để làm xét nghiệm cần phải cho phân vào môi trường Cary-Blair để chuyên chở.
+ Cấy phân vào môi trường chuyên biệt. Phẩy khuẩn tả mọc rất nhanh và có thể xác định sau 24 giờ.
- Kỹ thuật PCR tìm gen CTX: giúp chẩn đoán nhanh (nếu có điều kiện).
- Tình trạng cô đặc máu: Hematocrit tăng.
- Tình trạng rối loạn điện giải: Giảm kali, giảm bicarbonat, thậm chí pH thấp.
- Suy thận: urê và creatinin máu tăng trong những trường hợp nặng.
c) Dịch tễ học
- Cư trú tại vùng dịch tễ lưu hành hoặc đang có dịch tả.
- Tiếp xúc với người bị tả hoặc tiêu chảy mà chưa xác định được nguyên nhân.
- Ăn uống thực phẩm chưa nấu chín bị ô nhiễm như hải sản sống, mắm tôm sống...
CHÚ Ý: Trong vụ dịch, chẩn đoán trường hợp bệnh dựa chủ yếu vào các biểu hiện lâm sàng.
2. Chẩn đoán phân biệt
a) Nhiễm trùng, nhiễm độc thức ăn do Salmonella
- Sau ăn thức ăn nhiễm khuẩn 12-14 giờ, sốt cao, đau bụng tiêu chảy và nôn có thể gây mất nước, phân có thể nước hoặc nước máu.
b) Lỵ trực khuẩn
- Sốt, đau quặn bụng, mót rặn và phân có máu mũi.
c) Escherichia coli gây bệnh
- Các chủng nhóm huyết thanh O124, O136, O144 gây tiêu chảy và nôn do độc tố ruột.
d) Do độc tố của tụ cầu
- Ủ bệnh ngắn trong vài giờ sau khi ăn. Bệnh cấp tính như đau bụng dữ dội kiểu viêm dạ dày ruột cấp, nôn và tiêu chảy phân lỏng. Bệnh nhân không sốt và có khuynh hướng truỵ mạch.
e) Do ăn phải nấm độc
- Không sốt, đau bụng nhiều, nôn và tiêu chảy sau khi ăn phải nấm độc. Trường hợp nặng có thể gây nôn ra máu, đi ngoài ra máu, vàng da và mê sảng. Cần hỏi kỹ tiền sử ăn uống.
g) Tiªu chảy do ngộ độc hoá chất
- Do ăn thức ăn có nhiễm hoá chất như hoá chất bảo vệ thực vật.
3. Thể lâm sàng
a) Thể không triệu chứng
b) Thể nhẹ
- Giống như tiêu chảy thường.
c) Thể điển hình
- Diễn biến cấp tính như đã mô tả ở trên.
d) Thể tối cấp
- Bệnh diễn biến nhanh chóng, mỗi lần tiêu chảy mất rất nhiều nước, vô niệu, toàn thân suy kiệt nhanh chóng sau vài giờ và tử vong do truỵ mạch.
e) Bệnh tả ở trẻ em
- Gặp phổ biến thể nhẹ giống như tiêu chảy thường. Ở trẻ lớn tiêu chảy và nôn giống như người lớn, thường có sốt nhẹ.
g) Tả ở người già
- Hay gặp biến chứng suy thận mặc dù đã được bù dịch đầy đủ.

III. ĐIỀU TRỊ
1. Nguyên tắc
- Cách ly bệnh nhân.
- Bồi phụ nước và điện giải nhanh chóng và đầy đủ.
- Dùng kháng sinh để diệt vi khuẩn.
2. Điều trị cụ thể
a) Bồi phụ nước và điện giải
- Bù nước bằng đường uống: Áp dụng cho những trường hợp nhẹ, giai đoạn đầu chưa mất nước nhiều và giai đoạn hồi phục. Có thể áp dụng tại nhà hoặc ở các cơ sở y tế.
+ Các loại dịch dùng đường uống: Oresol (ORS) (gồm NaCl 3,5g, NaHCO3 2,5g, KCl 1,5g và glucose 20g) pha với một lít nước đun sôi để nguội.
Có thể pha dịch thay thế: 8 thìa nhỏ (thìa cà-phê) đường, 1 thìa nhỏ muối pha trong 1 lít nước; hoặc nước cháo 50g gạo và một nhúm (3,5g) muối hoặc nước dừa non có pha một nhúm muối.
+ Nên cho uống theo nhu cầu. Nếu nôn nhiều nên uống từng ngụm nhỏ.
- Bồi phụ khối lượng tuần hoàn bằng truyền tĩnh mạch:
+ Tổng lượng dịch truyền trong ngày:
Tổng lượng dịch truyền trong ngày = A + B + M
Trong đó     A: Lượng dịch mất trước khi đến viện (theo mức độ mất nước).
B: Lượng phân và chất nôn mất tiếp khi nằm viện.
M: Lượng nước duy trì trong ngày.
+ Các loại dịch truyền:
Natri clorid 0,9% hoặc Ringer lactat (4 phần)
Natri bicarbonat 1,4% (1 phần)
Glucose 5% (1 phần)
+ Bổ sung thêm kali clorid (KCl): mỗi 1 lít dịch truyền pha thêm 1g KCl. Khi bệnh nhân uống được thay bằng đường uống.
- Cách thức truyền dịch:
+ Giai đoạn 1: Từ 4-6 giờ đầu bù nước và điện giải đã mất trước khi đến bệnh viện, dựa vào mức độ mất nước.
+ Giai đoạn 2: Bù nước và điện giải đã mất trong khi nằm viện và lượng dịch duy trì.
+ Cần phải truyền nhanh bằng nhiều tĩnh mạch lớn hoặc truyền vào tĩnh mạch trung tâm.
+ Cần theo dõi các dấu hiệu sinh tồn, hematocrit, áp lực tĩnh mạch trung tâm (nếu có điều kiện) để điều chỉnh tốc độ truyền dịch cho thích hợp. Những trường hợp nặng cần theo dõi điện giải đồ để điều chỉnh cho phù hợp.
+ Khi hết nôn và uống được thì dùng dung dịch uống.
b) Điều trị kháng sinh
- Thuốc được dùng ưu tiên:
+ Nhóm fluoroquinolon (Ciprofloxacin 1g/ngày, Norfloxacin 800mg/ngày, Ofloxacin 400mg/ngày) uống chia hai lần/ngày, trong 3 ngày (Không dùng cho trẻ em dưới 12 tuổi, phụ nữ có thai và cho con bú. Thận trọng khi dùng cho trẻ từ 12 đến 18 tuổi).
+ Azithromycin 10 mg/kg/ngày uống trong 3 ngày.
+ Cloramphenicol 30 mg/kg/ngày uống chia 3 lần, dùng trong 3 ngày.
- Đối với trẻ em < 12 tuổi, phụ nữ có thai và cho con bú: Dùng azithromycin.
- Nếu không có sẵn các thuốc trên có thể dùng:
+ Erythromycin 1g/ngày uống chia 4 lần/ngày (trẻ em 40 mg/kg/ngày), dùng trong 3 ngày; hoặc
+ Doxycyclin 300 mg uống 1 liều (dùng trong trường hợp vi khuẩn còn nhạy cảm).
CHÚ Ý: Không được dùng các thuốc làm giảm nhu động ruột như morphin, opizoic, atropin, loperamide...  
c) Dinh dưỡng
- Nên cho bệnh nhân ăn sớm, ăn thức ăn lỏng, dễ tiêu. TrÎ cßn bó t¨ng c­êng bú mẹ.
3. Phân loại bệnh nhân để điều trị
- Căn cứ vào lâm sàng có thể xếp thành 4 loại để xử trí.
Bảng 2. Bảng phân loại bệnh nhân để điều trị
Loại
Các triệu chứng chính
Nơi điều trị
Phương pháp điều trị
I
- Tiêu chảy vài lần, phân ít, nhão
- Không nôn
- Mạch, huyết áp bình thường, chưa có dấu hiệu mất nước
Tại tuyến cơ sở (xã, phường hoặc tại nhà)
- Uống kháng sinh
- Uống dung dịch Oresol
II
- Tiêu chảy nhiều nhưng tự chủ được
- Không nôn tự nhiên
- Mất nước nhẹ
- Mạch, huyết áp bình thường
Tại trạm y tế xã, phường hoặc trung tâm y tế quận/huyện
- Uống kháng sinh
- Uống dung dịch Oresol
- Truyền dịch
III
- Tiêu chảy nhiều
- Nôn dễ dàng
- Có triệu chứng mất nước trung bình
- Huyết áp hơi hạ
- Mạch nhanh, yếu
- Mệt lả
Tại trung tâm y tế quận/huyện hoặc tuyến tỉnh. Nếu tại trạm y tế xã cần có sự hỗ trợ của bác sỹ và điều dưỡng tuyến trên
- Truyền dịch là chính. Nếu mạch và huyết áp trở về bình thường, bài niệu tốt, còn tiêu chảy nhẹ cần duy trì bằng dung dịch uống (ORS)
- Uống kháng sinh
IV
- Tiêu chảy và nôn nhiều gây nên mất nước nặng, thiểu niệu hoặc vô niệu
- Truỵ mạch: Huyết áp không đo được, mạch nhỏ khó bắt
Bệnh viện tuyến tỉnh hoặc trung ương. Có thể điều trị tại tuyến huyện nhưng cần có bác sỹ tuyến tỉnh hỗ trợ
- Truyền dịch với tốc độ nhanh
- Theo dõi mạch, huyết áp, lượng nước tiểu, áp lực tĩnh mạch trung tâm
- Uống kháng sinh
- Khi có dịch tả xảy ra, số lượng bệnh nhân đông, việc phân loại bệnh nhân để có thái độ xử trí đúng đắn sẽ làm giảm được tổn phí và hạ được tỷ lệ tử vong.
- Trường hợp bệnh tả nặng, mạch huyết áp không đo được phải cấp cứu tại chỗ (tuyến xã, tuyến huyện). Nếu trong tình trạng này mà vận chuyển lên bệnh viện tuyến trên quá xa thì tiên lượng càng nặng thêm. Do đó khi có dịch tả xảy ra tại cơ sở nên tổ chức cấp cứu tại chỗ, cần tăng cường bác sỹ và điều dưỡng tuyến trên hỗ trợ, chuẩn bị đầy đủ thuốc men, dịch truyền, dây truyền...
4. Tiêu chuẩn ra viện:
- Hết tiêu chảy.
- Tình trạng lâm sàng ổn định.
- Kết quả xét nghiệm cấy phân âm tính 3 lần liên tiếp. Ở những cơ sở không có điều kiện cấy phân thì cho bệnh nhân ra viện sau khi ổn định về mặt lâm sàng được 1 tuần.

IV. PHÒNG BỆNH
1. Các biện pháp khi có dịch
- Khi có bệnh nhân tả phải thông báo dịch cho y tế cấp trên và hệ y học dự phòng.
- Thực hiện nghiêm ngặt các biện pháp cách ly bệnh nhân ở buồng riêng theo đường tiếp xúc.
- Xử lý phân và chất thải bằng cloramin B 10% tỷ lệ 1:1 hoặc vôi bột.
- Khử khuẩn quần áo, chăn màn, dụng cụ của bệnh nhân, phương tiện chuyên chở bệnh nhân bằng dung dịch cloramin B 1-2%, nước Javen 1-2% hoặc nước sôi.
- Ngâm tay bằng dung dịch cloramin B, hoặc rửa tay bằng các dung dịch khử khuẩn sau khi thăm khám, chăm sóc bệnh nhân.
- Vệ sinh buồng bệnh ít nhất 2 lần/ngày bằng các dung dịch cloramin B, nước Javen 1-2% hoặc các chế phẩm khử khuẩn khác.
- Các chất thải phát sinh trong buồng cách ly phải được thu gom, xử lý như chất thải y tế lây nhiễm.
- Tử thi phải được liệm trong quan tài có vôi bột, bọc thi thể bằng vải không thấm nước và phải được chôn sâu 2m, hoặc hoả thiêu. Phương tiện chuyên chở tử thi phải được khử khuẩn.
- Điều trị dự phòng cho những người tiếp xúc trực tiếp không áp dụng các biện pháp phòng hộ với bệnh nhân bằng các kháng sinh được chỉ định để điều trị với liều duy nhất (riêng azithromycin 20mg/kg).
- Cơ quan y tế dự phòng tiến hành điều tra, xử lý ổ dịch.
- Hạn chế đi lại, giao lưu hàng hoá.
2. Các biện pháp dự phòng chung
- Vệ sinh môi trường, đảm bảo cung cấp nước sạch.
- Vệ sinh thực phẩm: Ăn chín, uống sôi, kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm, nước đá, nước giải khát. Không nên ăn các hải sản tươi sống, mắm tôm sống vì nguồn bệnh có thể ở trong đó và lây bệnh.
- Sử dụng vắc-xin tả uống cho những vùng có nguy cơ dịch theo chỉ đạo của cơ quan y tế dự phòng./.

                        KT. Bé tr­ëng
                                                               Thø tr­ëng






                            NguyÔn ThÞ Xuyªn
->Read More...

Tổng kết kháng sinh - Nhóm quinolone




1. Có thể chia các quinolon thành 4 nhóm.
Các quinolon thế hệ 1: (acid nalidixic và cinoxacin) chỉ được dùng trong diều trị nhiễmtrùng đường tiết niệu không biến chứng. Hiện nay việc sử dụng những thuốc này bị hạn chếdo vi khuẩn kháng thuốc.
Các quinolon thế hệ 2: hay fluoroquinolon, đặc trưng bởi việc thêm nguyên tử fluorinvào cấu trúc quinolon. Các thuốc thếhệ 2 gồm ciprofloxacin, enoxacin, grepafloxacin, lomefloxacin, norfloxacin và ofloxacin. Các thuốc này có dược lực học tiến bộ hơn thuốc thế hệ đầu và có tác dụng chống nhiều loại vi sinh vật gây nhiễm trùng. Các thuốc thế hệ 2 biểu hiện hoạt tính chống gram âm và tác dụng toàn thân. So với các quinolon thế hệ 1, các fluoroquinolon có khá ít tác dụng phụ, và vi khuẩn không nhanh chóng kháng thuốc. Việc sử dụng trên lâm sàng bao gồm nhiễm trùng tiết niệu và viêm đài bể thận khôngbiến chứng và có biến chứng, bệnh lây qua đường tình dục (STD), viêm tuyến tiền liệt,nhiễm trùng da và mô mềm. Norfloxacin là thuốc đầu tiên thuộc nhóm này có thời gian bán thải ngắn nhất trong số các fluoroquinolon hiện có.Nói chung thuốc được dành để điều trị nhiễm trùng tiết niệu vì thuốc có sinh khả dụng đường uống kém. Norfloxacin có ở dạng uống và dạng tra mắt. Ciprofloxacin là fluoroquinolon có hiệu lực chống Pseudomonas aeruginosa mạnh nhất. Tuy nhiên, nhiều chủng Ps. aeruginsa và Serratia marcescens đã kháng ciprofloxacin. Ciprofloxacin cũng xâm nhập tốt vào xương, do đó thuốc có thể thay thế cho các kháng sinh không dùng đường uống để điều trị viêm xương tủy do vi khuẩn nhạy cảm gây ra. Enoxacin tác động mạnh nhất đến chuyển hóa gan của các thuốc khác. Gatifloxacin, lomefloxacin và moxifloxacin có thời gian bán thải dài nhất nhóm và có thể uống 1 lần/ngày. Ofloxacin là thuốc được bài xuất nguyên vẹn qua thận nhiều nhất.
Ofloxacin cũng là fluoroquinolon thế hệ 2 có tác dụng nhất chống Chlamydia trachomatis. Ofloxacin cũng có tác dụng chống Staphylococcus aureus mạnh nhất nhóm, mặc dù nên thận trọng khi dùng các fluoroquinolon thế hệ 2 trong điều trị vi khuẩn này. Ciprofloxacin và ofloxacin là những fluoroquinolon được sử dụng rộng rãi nhaát vì có chỉ định rộng và có ở cả dạng uống, tiêm tĩnh mạch và tra mắt. Ofloxacin còn có ở dạng thuốc nhỏ tai để điều trị viêm tai ngoài và viêm tai giữa. Grepafloxacin khoâng sử dụng do khả năng gây tác dụng phụ tim mạch nặng.
Các quinolon thế hệ 3: bao gồm gatifloxacin, levofloxacin, moxifloxacin và sparfloxacin. Levofloxacin là đồng phân levo và là thành phần hoạt động hơn của hỗn dược ofloxacin triệt quang. Các quinolon thế hệ 3 có hoạt phổ rộng chống vi khuẩn gram dương, đặc biệt là chống Streptococcus pneumoniae nhạy cảm và kháng penicillin, và một số tác nhân gây bệnh không điển hình như Mycoplasma pneumoniae và Chlamydia pneumoniae. Các thuốc thế hệ 3 cũng có phổ gram âm rộng nhưng tác dụng chống Pseudomonas kém ciprofloxacin. Chỉ định lâm sàng bao gồm viêm phổi cộng đồng, viêm xoang cấp và đợt cấp của viêm phế quản mạn. Gatifloxacin cũng được cấp phép dùng điều trị nhiễm trùng tiết niệu và lậu. Cả gatifloxacin và levofloxacin đều có ở dạng uống và tiêm tĩnh mạch. Levofloxacin còn có ở dạng nhỏ mắt để điều trị viêm kết mạc do vi khuẩn.
Các quinolon thế hệ 4: bao gồm trovafloxacin, alatrofloxacin. Trovafloxacin là hoạtchất dùng đường uống, còn alatrofloxacin là tiền chất của trovafloxacin được dùng đường tĩnh mạch. Trovafloxacin có tác dụng rõ rệt chống vi khuẩn kị khí trong khi vẫn giữ được hoạt tính chống gram âm và gram dương của các quinolon thế hệ 3. Thuốc cũng có tác dụng chống Pseudomonas tương đương ciprofloxacin. Trovafloxacin cũng có tác dụng chống những vi khuẩn kháng thuốc như Streptococcus pneumoniae kháng penicillin. Nồng độ trovafloxacin trong huyết thanh tương đương với nồng độ sau khi sau khi tiêm tĩnh mạch alatrofloxacin hoặc uống trovafloxacin. Trovafloxacin được giới hạn sử dụng do thuốc có thể gây những tác dụng phụ nặng trên gan.
2. Dược động học
Các quinolon được hấp thu tốt qua đường tiêu hóa, bài thải chủ yếu qua đường tiết niệu ở dạng còn hoạt tính tạo độ an toàn cao với hệ tiết niệu. Vào tủy xương và dịch não tủy thấp. Sử dụng đường tiêm: điều trị những bệnh ở ruột non do thuốc có chu kỳ gan-mật-ruột. Sử dụng đường uống vừa điều trị nhiễm trùng đường ruột vừa điều trị nhiễm trùng toàn thân vì tỷ lệ hấp thu trên 80%. Thuốc không bài thải qua sữa nhưng qua được trứng. Thuốc không được các cơ quan dự trữ lâu trong cơ thể.
Các quinolon thế hệ 1phân bố kém ở các mô, được đào thải chủ yếu qua thận với một phần ở dạng có hoạt tính.
Các quinolon thế hệ 2 được phân bố rất tốt ở mô, nhất là mô phổi, xương, tuyến tiền liệt, tai mũi họng… riêng norfloxacin phân bố ở mô kém hơn các fluoroquinolon khác. Pefloxacin được đào thải phần lớn qua mật.
3. tác dụng phụvà tương tác thuốc:
Các quinolon thế hệ 3, trừ levofloxacin, có thể làm khoảng QT kéo dài. Gatifloxacin, moxifloxacin và sparfloxacin bị chống chỉ định ở bệnh nhân đang dùng những thuốc kéo dài khoảng QT.
Một vấn đề cần chú ý với kháng sinh nhóm quinolon là chúng có khả năng gắn với các cation hóa trị hai và hóa trị ba ở những mức độ khác nhau, là vấn đề cũng gặp khi dùng tetracyclin. Các chất chống acid, sắt bổ sung, và ngay cả các vitamin cùng với muối khoáng như kẽm và calci có thể gắn và làm giảm tới 90% sinh khả dụng đường uống của kháng sinh quinolon. Sắp xếp giờ uống thuốc sẽ ngăn ngừa sự gắn kết trong dạ dày. Ngoài ra, thầy thuốc không nên bỏ qua những thuốc có chứa cation hóa trị 2 và hóa trị 3. Ví dụ, sucralfat có chứa ion nhôm và gắn với ciprofloxacin. Viên didanosin chứa những chất đệm có ion nhôm và magiê. Sinh khả dụng của ciprofloxacin và norfloxacin giảm khi uống những thuốc này cùng với didanosin.
Các thuốc kháng acid làm giảm hấp thu các quinolon
Phần lớn các quinolon làm tăng hoạt tính của thuốc chống đông máu.
Cimetidine làm giảm chuyển hóa các quinolon( nhất là pefloxacin) và làm tăng thời
gian bán thải.
Hiệu lực của các quinolon ở đường tiểu bị giảm khi sử dụng các chất acid hóa nước tiểu và gia tăng khi dùng các chất kiềm hóa nước tiểu.
Có hai điều cần chú ý khi dùng các kháng sinh này. Do đã thấy những dị dạng sụn ở động vật non dùng quinolon ở liều lớn gấp nhiều lần liều dùng cho người, nên người ta khuyên không dùng thuốc cho trẻ em dưới 16 tuổi. Nói chung, không nên dùng thuốc cho trẻ em, mặc dù nhiều trẻ dùng fluoroquinolon không bị tổn thương sụn. Người ta cũng chú ý tới tình trạng đứt gân có liên quan tới những liệu trình quinolon ngắn ngày. Bệnh nhân dùng quinolon nên tránh tập nặng trong khi điều trị và một vài tuần sau khi ngừng thuốc.
Liều dùng của một số thuốc phổ biến:
  1. Ciprofloxacin: điều trị các nhiễm khuẩn đường tiêu hóa, Nk đường hô hấp (trù nhiễm khuẩn do phế cầu), NK xương khớp, Nk huyết, viêm màng não do não mô cầu.liều dùng từ 250-750mg/lần x 2 lần/ngày tùy tình trạng mà có thể dùng từ 2-10 ngày.
  2. Ofloxacin: Nk tiêt tiết niệu, Nk da và mô mềm, NK tiểu khung… liều thường là 200-400mg/lần x 1 lần/ngày, nếu tình trạng nặng có thể tăng lên 2 lần/ngày. liều chung cho cả đường uống và tiêm.
  3. Levofloxacin: liều 250mg/ngày duy nhất một liều trong 3 ngày, giảm liều ở suy thận như sau: Mặc dù ban đầu liều (xem) sẽ không thay đổi ở bệnh nhân suy thận, các liều levofloxacin nên được điều chỉnh. 
Tại Vương quốc Anh, sau đây là liều được khuyến khích theo creatinin thanh thải tại cầu thận (CC):
TS 20 đến 50 ml / phút: liều được chia đôi ( bớt đi một nửa).
TS 10 đến 19 mL / phút: các liều được giảm đến một phần tư của liều thuốc đạt tiêu chuẩn (của một regimen 250 mg hàng ngày nên được giảm đến 125 mg mỗi ngày khác)
CC ít hơn 10ml / phút: (bao gồm cả chạy thân nhân tạo và lọc màng bụng): tiêu chuẩn của liều 250 mg hay 500 mg / ngày là giảm đến 125 mg mỗi 48 hoặc 24 giờ tương ứng
Ở Mỹ, sau đây là liều thuốc được đề nghị sửa đổi, bổ sung:
Sau khi ban đầu là một liều 750 mg / ngày,
TS 20 đến 49 mL / phút:  liều là 750 mg mỗi 48 giờ
CC lên đến 19 mL / phút: (bao gồm cả chạy thân nhân tạo và lọc màng bụng): các liều là 500 mg mỗi 48 giờ
Sau khi ban đầu là một liều 500 mg / ngày,
TS 20 đến 49 mL / phút: các liều là 250 mg mỗi 24 giờ


CC lên đến 19 mL / phút (bao gồm cả chạy thân nhân tạo và lọc màng bụng): các liều là 250 mg mỗi 48 giờ
Sau li ều đầu là liều 250 mg / ngày,
TS 10 đến 19 mL / phút: liều là 250 mg mỗi 48 giờ
->Read More...

Tổng kết kháng sinh - Nhóm Macrolides

LÀ một nhóm kháng sinh rất phổ biến nhưng hiện nay chưa đựo đánh giá đúng tiềm năng, khá thích hợp cho trẻ con nhiều lứa tuổi và lành tính với trẻ em!




  1. Phân loai: gồm có 2 thế hệ, thê hệ cổ điển gồm có: Erythromycin, Spiramycin. Thế hệ mới gồm có các thuốc như Roxithromycin, Clarythromycin và Azithromycin.

  2. Dược lực: có  tác dụng chống nhiều vi khuẩn là cầu khuẩn gram dương hiếu khí và kị khí, các loại neisseria; Mycoplasma pneumonia, chlamydia.. một số chủng liên cầu tan huyết beta nhóm A vàtuj cầu kháng penicillin. Là nhóm kháng sinh thay thế khi bị dị ứng với nhóm beta lactam. Nhóm macrolid có khả năng thâm sâu vào ổ mủ nên là một chọn lựa tốt cho các nhiễm khuẩn ho hấp. Clarythromycin còn có tác dụng lên HP nên được ứng dụng điều trị viêm loét dạ dày cùng với amoxicillin

  3. Dược động học: Erythromycin được hấp thu ở ruột nhanh nhưng không hoàn toàn (khoảng 80%), các yếu tố có thể ảnh hưởng đến việc hấp thu bao gồm, dạng phối hợp với muối, liều lượng sử dụng, GI axit, thức ăn trong bao tử, và thời gian bao tử rỗng. Erythromycin mất hoạt tính kháng sinh trong môi trường axit cuả dịch vị. Hai dạng ethylsuccinat và estolate được hấp thu ở ruột non. Thuốc bài tiết cơ bản qua mật còn hoạt tính , nhưng cũng một phần qua trao đổi chất ở gan dạng N- demethylation bất hoạt. Một ít thuốc được tái hấp thu. Khoảng 25% erythromycin loại trừ dạng không đổio qua nước tiểu.

  4. Độc tính : ít độc tính, khá lành tính.

  5. Liều dùng: với erythromycin liều là 1-2g/24h, chia từ 2-4 lần, với Azithromycin liều là 500mg/lần/ngày x 1 lần/ngày x 3 ngày.

->Read More...

Tổng kết kháng sinh - Nhóm Lincosamid

Sau một thời gian bỏ bễ phần tổng kết kháng sinh và chuyên mục Y học, nay lại quay trở lại với phần tổng kết tiếp theo vè nhóm kháng sinh lincosamid, một nhóm kháng sinh đã từng đình đám trong quá khứ!

( các thông tin trong đây có ý nghĩa tham khảo, nếu bạn bị bệnh hãy tìm cho minh một bác sĩ)

  1. Dược học:Kháng sinh thuộc nhóm lincosamide là licomycin và clidamycin. Chúng có cùng cơ chế tác động ức chế tổng hợp protein trong tế bào vi khuẩn bằng cách ngăn chặn bước chuyển đổi axit amin từ ARN vận chuyển qua ribosom50s. Tương tác chéo giữa 2 thuốc. Chúng coí thể diệt vikhuẩn hoặc kìm hãm vi khuẩn tuỳ vào liều lượng và vị trí tập trung thuốc, độ nhạy cuả tổ chức cơ quan. Hầu hết vi khuẩn Gr+ cocci thì nhạy cảm với licosamide (trừ Strep.faecalis), gồm Staphilococcus và streptoccoci. Những loài khác là Corynebacterium diphtheriae, Norcadia astoides, Erysepelothrix, và mycoplasma sp. Vi khuẩn kỵ khí có thể nhạy cảm với licomycin bao gồm Clostridium perfringens, C. Tetani ( trừ C. Difficile), Bacteroides,( bao gồm cả dòng B. Fragilis), Fusobacterium, Peptotreptococcus, Actinomyces, và peptococcus.

  2. Cách dùng –chỉ dẫn: Liều lượng người lớn có thể uống với liều từ 150-300mg/lần x 4 lần/ngày cách nhau mỗi 6h, có thể lên tới 450mg/lần hoặc  tiêm tĩnh  mạch  hay tiêm băp sâu với liều 0.6-2.7g/ngày chia 2-4 lần. max liều là 4.8g/ngày ( với lindamycin ) Liều với Lincomycin là 500mg/lần x3 lần/ngày cách nhau mỗi 8h hoặc tiêm bắp liều 600mg/lần/ngày x2 lần/ngày.

  3. Dược động học: Thuốc được hấp thu nhanh ở ruột, nhưng cũng chỉ 30-40% lượng thuốc. Thức ăn làm giảm bớt phạm vi và mức độ hấp thu thuốc. Thuốc đạt mứ c cao nhất trong máu sau khi uống thuốc 2-4h, chích bắp thì nhanh gấp đôi cho uống khoảng 30 phút sau đạt mứ c cao nhất trong maú. Lincomycin phân tán vào hầu khắp các mô cơ quan, đạt mức chữa trị ở mô xương, các dịch thể, mật, da và cơ tim, viên màng não. Lincomycin có thể đạt 57-72% trong protein huyết thanh , tuỳ vào sự tập trung thuốc. Thuốo có thể qua nhau thai, cũng có thể vào sữa ở mức tương đương trong máu. Lincomycin bị khử ở gan. Thuốc được bài suất và chuyển hoá qua nước tiểu, phân,mật.

  4. Tác dụng đáng lưu ý: các thuốc nhóm này có tác dụng như macrolid với các cầu khuẩn gram dương bao gồm cả tụ cầu kháng penicillin, tác dụng lên cả các vi khuẩn kị khí có cả nhóm bacteroid, thuốc cũng ngấm tốt vào tổ chức xương nên nhóm này được chỉ định cho điều trị các áp xe phổi và nhiểm khuẩn ổ bụng – tiểu khung  do VK kị khí và dùng trong các trường hợp viêm xương.

  5. Tác dụng phụ: một tác dụng phụ quan trọng và nặng là nó gây viêm ruột kết mạc giả có thể gây tử vong (ỉa chảy dữ dội).

->Read More...