Viêm loét dạ dày - phần 4



VI. MỘT SỐ ĐIỀU LƯU Ý ĐỐI VỚI NGƯỜI BỆNH:

- Có nhiều mức độ bệnh:

  • Rối loạn tiêu hóa giống loét (Non-ulcer dyspepsia)

  • Viêm (Gastritis, Duodenitis)

  • Loét (Peptic ulcer)


à Cần đi khám bệnh để chẩn đoán xác định

- THUỐC: KIÊN TRÌ dùng ĐỦ, ĐÚNG THUỐC

- CHẾ ĐỘ SINH HOẠT: điều độ, nghỉ ngơi thích hợp, tránh xúc động, căng thẳng thái quá.

- DINH DƯỠNG: đầy đủ chất, tránh NO QUÁ và ĐÓI QUÁ, tránh các chất tăng tiết acid.

VII. MỘT SỐ KHUYẾN CÁO TRONG ĐIỀU TRỊ:

  • Loét hoạt động (actve ulcer): Kháng thụ thể H2 hoặc PPI.

  • Điều trị duy trì: Kháng thụ thể H2 (liều phân nửa) hoặc PPI.

  • Ngừa loét do NSAID: misoprotol hoặc PPI.

  • Loét biến chứng (xuất huyết cấp, acute gastrointestinal bleeding): IV với kháng thụ thể H2 (nay có thêm pantoprazol).


VIII. PHẢN ỨNG BẤT LỢI CỦA CÁC THUỐC ĐIỀU TRỊ VIÊM LOÉT DẠ DÀY HAY GẶP VÀ CẦN CHÚ Ý:

Mặc dù các thuốc chống loét nói chung đều được dung nạp khá tốt, nhưng cần ghi nhớ một số phản ứng bất lợi có thể xảy ra.

Tác dụng phụ hay gặp nhất của các chất kháng acid là ở đường tiêu hóa. Tác dụng lên đường tiêu hóa thường liên quan với liều. Các chất chống acid chứa magiê gây ỉa lỏng, chứa nhôm gây táo bón. Carbonat calci gây hồi ứng acid. Vì carbonat natri có thể bị hấp thu toàn thân gây kiềm chuyển hóa. Chất chống aicd chứa nhôm dùng liều cao kéo dài có thể gây giảm phosphat máu. Cũng có bằng chứng cho thấy chất chống acid chứa nhôm gây biến chứng ở bệnh nhân lọc máu ngoài thận. Không dùng chất chống acid chứa magiê cho bệnh nhân suy thận.

Đa số mọi người dung nạp tốt chất chẹn H2. Tác dụng phụ khá hiếm gặp, đau đầu là tác dụng phụ hay gặp nhất khi dùng đường uống. Tất cả các thuốc đều có độc tính với tuỷ xương, mặc dù nói chung, độc tính này hiếm gặp (Ê 1/100.000 bệnh nhân). Phản ứng hệ thần kinh trung ương là đặc ứng và chủ yếu được báo cáo ban đầu ở bệnh nhân nặng hoặc người già dùng thuốc. Những tác dụng phụ hiếm gặp khác của nhóm thuốc này gồm viêm gan, viêm tụy hoặc phản ứng quá mẫn. Tác dụng kháng androgen yếu của cimetidin có thể gây chứng vú to ở nam giới khi dùng thuốc trên 1 tháng, nhưng sẽ hết khi ngừng thuốc. Cimetidin cũng ức chế chuyển hóa của nhiều thuốc khác ở gan.

Các chất ức chế bơm proton PPI được dung nạp tốt. Tác dụng phụ khi dùng ngắn ngày tương tự các thuốc chẹn H2 (đau đầu, ỉa lỏng hoặc táo bón). Omeprazol, lansoprazol và pantoprazol, do có khả nǎng ức chế tiết acid gần như hoàn toàn, có thể gây nhiễm khuẩn dạ dày ruột, đặc biệt ở người tổn thương hệ miễn dịch. Có mối lo ngại là PPI làm tǎng nguy cơ quá sản hoặc carcinoma dạ dày do một số bệnh nhân bị tǎng gastrin huyết khi điều trị kéo dài. Tuy nhiên, dựa trên giám sát qua 15 nǎm sử dụng PPI, không có bằng chứng về sự tǎng nguy cơ này tǎng lên,.

Vì là một prostaglandin nên misoprostol có thể làm tǎng nặng bệnh viêm ruột. Dùng misoprostol liều thấp hơn (200m g uống 2-3 lần/ngày) có hiệu quả bằng liều ban đầu 200m g uống 4 lần/ngày và gây ít tác dụng phụ hơn. Tuy nhiên, ỉa lỏng, co cứng bụng và buồn nôn là những tác dụng phụ đáng kể của misoprostol. Vì thuốc có thể kích thích co bóp tử cung và gây sảy thai, không dùng misoprostol khi có thai và phải ngừng thuốc khi có thai trong quá trình điều trị. Phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ phải áp dụng biện pháp tránh thai thích hợp khi đang dùng thuốc này.

Tác dụng phụ hay gặp nhất của sucralfat là táo bón. Những người bệnh nặng hoặc phải nằm liệt giường lâu ngày phải nuôi dưỡng qua xông dạ dày, có thể tạo thành dị vật dạ dày nếu ống xông không được bơm rửa cẩn thận trong và sau khi dùng thuốc. Sucralfat có chứa nhôm, và có mối lo ngại về chứng hạ phosphat máu ở bệnh nhân dùng thuốc dài ngày. Bệnh nhân suy thận hoặc đang phải thẩm tách có thể bị tích lũy nhôm khi dùng thuốc, do giảm bài xuất nhôm. Lượng nhôm tích lũy toàn thân khi dùng sucralfat kéo dài tương đương với lượng nhôm khi dùng các chất chống acid có chứa nhôm.

Nhìn chung, các thuốc điều trị H.pylori đều được dung nạp tốt, tuy nhiên, có tới 30% số bệnh nhânbị những tác dụng phụ nhẹ. Khi dùng nhiều phối hợp khác nhau điều trị nhiễm H.pylori, những tác dụng phụ hay gặp nhất là thay đổi vị giác (clarithromycin, metronidazole); ỉa lỏng, đau bụng và buồn nôn/nôn. Tỉ lệ bị tác dụng phụ tǎng khi dùng các phác đồ có chứa chế phẩm bismuth (>50%). Tất cả các thuốc này đều có thể gây quá mẫn ở người nhạy cảm thuốc. Các kháng sinh như amoxicillin và tetracyclin đôi khi gây ỉa lỏng, phát ban hoặc viêm âm đạo. Metronidazol có thể gây phản ứng kiểu disulfiram ở người dùng đủ lượng đồ uống hoặc thuốc chứa cồn, nhưng dạng phản ứng này không hay gặp. Bismuth gây táo bón và làm phân có mầu đen. ở liều cực cao, bismuth subsalicylat có thể gây ngộ độc salicylat. Vì nguy cơ một số thuốc thuộc nhóm này có hại cho thai nghén (như tetracyclin và metronidazole), nên không dùng phác đồ tiệt trừ H.pylori cho phụ nữ có thai. Hơn nữa, một số thuốc thuộc nhóm này không được khuyến nghị dùng ở phụ nữ cho con bú.

IX. Phòng và điều trị loét do NSAID và các biến chứng

Nếu có thể, nên ngừng NSAID khi bị loét tiêu hóa hoặc có các biến chứng tiêu hóa khác. Misoprostol được coi là thuốc lý tưởng để ngǎn ngừa loét và các tai biến tiêu hóa do NSAID. Các PPI và các chất chẹn H2 có cả tác dụng phòng ngừa lẫn điều trị biến chứng tiêu hóa do NSAID, nhưng theo các thử nghiệm hiện tại thì PPI được ưa chuộng hơn chất chẹn H2. Có ít nhất 1 nghiên cứu cho thấy PPI có hiệu quả tương đương misoprostol trong việc làm liền ổ loét do NSAID và liệu pháp PPI được dung nạp tốt hơn. Một số chuyên gia gợi ý nên dùng PPI để điều trị loét hoạt động do NSAID và nên dành trị liệu phối hợp PPI với misoprostol cho những trường hợp loét dai dẳng. Chưa có số liệu về phối hợp PPI với chất chẹn H2.

Dựa trên hoạt tính dược học, sucralfat được nghiên cứu tác dụng phòng ngừa tổn thương niêm mạc do NSAID. So sánh dùng misoprostol 200m g uống 4 lần/ngày với sucralfat 1g uống 4 lần/ngày trong phòng ngừa loét dạ dày do NSAID ở người cho thấy loét dạ dày diễn ra ở 1,6% số bệnh nhân dùng misoprostol so với 16% số bệnh nhân dùng sucralfat.

Một nghiên cứu khác gần đây cho thấy omeprazol hiệu quả hơn sucralfat trong ngǎn ngừa các biến chứng do NSAID. Nhiều nghiên cứu không xác định được hiệu quả lâm sàng của sucralfat. Gastrogal(r), một chế phẩm sucralfat dạng gel mới đang được nghiên cứu, thử nghiệm ban đầu kéo dài 2 tuần tỏ ra có triển vọng. Bệnh nhân dùng gel sucralfat cùng với NSAID ít bị loét dạ dày tá tràng xác định bằng nội soi, chứng ợ nóng và đau bụng hơn đáng kể so với người dùng placebo. Tuy nhiên, không khuyến nghị dùng sucralfat để điều trị các biến chứng tiêu hóa do NSAID vì chưa có bằng chứng đáng tin cậy về ích lợi của thuốc.

->Read More...

Viêm loét dạ dày - phần 3


V. Các phác đồ điều trị được đề nghị


1- Loại phác đồ dành cho người điều trị lần đầu (chưa bị kháng thuốc):

+ Phác đồ thứ nhất: Cặp kháng sinh clarithromycin + amoxicylin, hoặc cặp clarithromycin + metronidazol kết hợp với thuốc ức chế bơm proton omeprozol (hoặc lansoprozol, rabeprazol, esomeprazol). Trong phác đồ này: nếu tăng liều clarithromycin mỗi ngày từ 500mg lên 1.500mg thì thu được kết quả cao hơn, nhưng tăng liều các kháng sinh khác và thuốc ức chế bơm proton thì không có ý nghĩa. Dùng phác đồ này 14 ngày (như ở Mỹ) có kết quả cao hơn khoảng 7-9% so với dùng 7 ngày (phác đồ điều trị ở châu Âu). Tỷ lệ kháng thuốc của H.Pylori với clarithromycin là 10%, metronidazol là 20-30%.

+ Phác đồ thứ hai: Cặp kháng sinh clarithromycin + amoxicylin hoặc cặp clarithromycin + nitroimidazol kết hợp với một thuốc kháng acid ramitidin bismuth citrat. (RBC). Trong phác đồ này: các kháng sinh ít bị kháng thuốc hơn so với phác đồ dùng thuốc ức chế bơm proton.

+ Phác đồ thứ ba: Cặp kháng sinh nitroimidazol + tetracyclin hoặc cặp amoxicylin + furazolidon kết hợp với thuốc giảm acid bismuth. Phác đồ này rẻ tiền nhưng furazolidon thường gây nhiều tác dụng phụ.

2- Loại phác đồ dành cho người điều trị lần thứ hai (đã bị kháng thuốc):

Cần dùng kháng sinh đồ để lựa chọn kháng sinh thích hợp. Chưa có một khuyến cáo cụ thể. Thường dùng là cặp kháng sinh clarithromycin + tinidazol kết hợp với thuốc ức chế bơm proton lansoprozol.

3- Lưu ý:

- Chiến lược: xét nghiệm HP +, phối hợp thuốc (2 kháng sinh trở lên), tiệt trừ HP.

- Liệu trình phải từ 7-14 ngày.

- 3 THUỐC:

  • bismuth (TDB, CBS) + tetracyclin + metronidazol: Gastrostat (5lần/ngàyx10ngày).

  • ranitidine bismuth citrate (Pylorid) + clarithromycin

  • Châu Âu: PPI+ amoxicillin + clarithromycin


- 4 THUỐC: Gastrostat + omeprazol.

4- Một số phác đồ tham khảo:

Viêm loét DDTT cấp tính thứ phát :

  • Loại bỏ các nguyên nhân gây bệnh: Điều trị sỏi, điều trị bệnh toàn thân, chấn thương, nhiễm trùng nặng... loại bỏ thuốc gây viêm loét Corticoide, NSAID; nếu không loại bỏ được có thể dự phòng nguy cơ XHTH.



  • Điều trị các thuốc ức chế bơm proton hoặc kháng thụ thể H2 - dùng 4 tuần.


Cimetidine 20 mg - 40 mg/kg/24giờ uống làm 2 - 4 lần. Cấp tính có thể tiêm tĩnh mạch 4-6 lần (tối đa ở trẻ lớn 2,4g/24 giờ) dùng 4-6 tuần; duy trì 5 mg/kg/ngày uống 1 liều vào ban đêm. Điều trị kéo dài 1 năm.

Ranitidine 2 - 6 mgr/kg/24 giờ chia 2 lần uống hoặc tiêm tĩnh mạch 2 lần (tối đa ở trẻ lớn 300 mg/24 giờ)

Omémazole dùng ở trẻ lớn 20 mg - 40 mg/24 giờ/ uống 2 lần (20mg/1,73 m2 da. 1mgr/kg/ngày tối đa 20 mgr uống 2 lần).

  • Thuốc bọc: Sucralfate, 1gr/1,73 m2 uống1/2 giờ sau khi ăn và trước khi đi ngủ.



  • Thuốc trung hoà Acid: (Phosphalugel, Maalox) 0,5 - 1,0 ml/kg uống 3 giờ sau khi ăn và trước lúc đi ngủ



  • Truyền máu cấp nếu XHTH cấp tính



  • Xử trí ngoại khoa nếu phát hiện có thủng dạ dầy.


3.2.Viêm, loét DDTT mãn tính tiên phát

Điều trị làm sạch Helicobacter Pylori :

* Amoxixilline 50 mgr/kg/ngày (tối đa 750 mg) chia 2 lần uống trong 14 ngày

* Metronidazole 20 - 30 mg/kg/ngày (tối đa 500 mg) chia 2 lần uống, uống trong 14 ngày.

* Clarithromycin 15 mg/kg tối đa 500 mgr/ngày chia 2 lần thường được dùng khi kháng metronidazole.

* Trẻ lớn > 12 tuổi có thể dùng Tetraxyclim 50 mgr/kg/ngày chia 2 lần.

* Phối hợp kháng sinh và thuốc kháng sinh bài tiết acid. Điều trị viêm loét DDTT có liên quan tới Helicobacter Pylori.

Lựa chọn :

Lựa chọn đầu tiên

Phối hợp thuốc.

- Amoxixiclin + Metronidazole + Omeprazole

- Amoxixiclin + Clarithromyxin + Omeprazole

- Clarith romyxin + Metronidazole + Omeprazole

(2 lần/ngày dùng trong 14 ngày)

Lựa chọn bước hai nếu bước 1 thất bại

- Bismuth + Metronidazole + Omeprazole hoặc Metronidazole thay bằng Tetraxylin hoặc Clarithromyxin dùng 4 tuần lễ

- Ranitidine bismuth citrate + Clarithromyxin + Metronidazole (1 viên x 4 lần/ ngày) dùng 4 tuần lễ.

  • Thuốc ức chế thực thể H2: Giảm bài tiết Acid.HCL và thuốc ức chế bơm Proton dùng liền trong 4 - 6 tuần lễ, kể cả sau khi kết hợp với thuốc làm sạch HP.


Thuốc ức chế bơm proton: Omeprazole 1 mg/kg/ngày tối đa 20 mgr chia 2 lần ngày. trong 14 ngày

->Read More...

Viêm loét dạ dày - phần 2

Các loại thuốc đièu trị viêm loét dạ dày!



II. CÁC THUỐC TRỊ VLDD-TT THEO CƠ CHẾ TÁC ĐỘNG SỰ TIẾT ACID DỊCH VỊ




- Các thuốc trung hòa acid dịch vị: Thuốc kháng acid

- Các thuốc chống sự tiết dịch vị:

  • Thuốc kháng histamin ở thụ thể H2.

  • Thuốc ức chế "bơm Proton"


A. Các thuốc kháng acid

- Al(OH)3, Mg(OH)2 hoặc các muối của Mg, Al ở dạng phosphat, carbonat, trisilicat ...

- Al(OH)3 + Mg(OH)2 (Maalox, Stomafar)

Thuốc kháng acid phối hợp:

  • Chất chống đầy hơi simethicon (Maalox plus, Mylanta II, Kremil-S, Simelox).

  • Thuốc chống co thắt: Dicyclomine (Kremil-S) à CCĐ: glaucoma (tăng nhãn áp).


- Dạng thuốc:

  • Lỏng ( gel, dịch treo), bột: hòa với nước uống.

  • Viên nén, thuốc cốm: nên nhai kỹ.


_ Nên uống thuốc kháng acid 4 lần/ngày: vào khoảng cách giữa 2 bữa ăn (1-3 giờ sau 3 bữa ăn chính) và tối trước khi đi ngủ.

- Uống cách xa các thuốc khác sau 2 giờ.

B. Các thuốc kháng histamin ở thụ thể H2

- CIMETIDIN (Tagamet, Peptol, Gastromet, Histodil)

- RANITIDIN (Zantac, Raniplex, Ratidin)

- FAMOTIDIN (Pepcid, Pepdine, Servipep 40)

- NIZATIDIN (Nizaxid)

- Cơ chế: Đối kháng tương tranh với histamin tại thụ thể H2 nằm ở màng tế bào viền lảm cho tế bào không tiết ra acid.

Liều thông thường

CIMETIDIN 400mg (300mg)x2/ngày hoặc 800mg (600mg) khi ngủ

RANITIDIN 150mgx2/ngày hoặc 300mg khi ngủ

FAMOTIDIN 20mgx2/ngày hoặc 40mg khi ngủ

- Cimetidin: kháng androgen (ức chế nội tiết tố sinh dục nam cho nên phụ nữ có thai và cho con bú không nên dùng), tương tác thuốc với khá nhiều thuốc làm giảm tác dụng hoặc tăng độc tính.

- Ranitidin thường được dùng nhất, ít gây tác dụng phụ hơn cimetidin.

C. Các thuốc kháng acetylcholin ở thụ thể M1:

- Pirenzepin (Gastrozepine) hiện ít được sử dụng.

- Atropin, cồn Belladone, Buscopan... các thuốc này có ái lực yếu với M1 nên sự chống tiết acid dịch vị yếu, được dùng chủ yếu để chống co thắt làm giảm đau.

D. Thuốc kháng thụ thể Gastrin:

Proglumid (Milide, Promide) hiện ít dùng.

E. Thuốc ức chế " bơm proton" (PPI:)

Omeprazol (Mopral), lansoprazol (Lanzor, Lansec), pantoprazol (Protium, Pantrafar), rabeprazol (Pariet).

- Cơ chế: Ức chế enzym H+K+ATPase (bơm proton) nằm ở màng tế bào viền làm cho acid không chuyển vận ra khỏi tế bào để đổ vào lòng dạ dày.

- Uống liều duy nhất (20-40mg) trước khi ăn sáng.

- Pantoprazol: có thể dùng đường IV.



III. THUỐC CHỮA VLDD-TT THEO CƠ CHẾ BẢO VỆ TẾ BÀO HAY BẢO VỆ NIÊM MẠC:

A. Cơ chế tác động:

- Kích thích tế bào nhầy tiết ra chất nhầy, NaHCO3.

- Làm tăng sinh tế bào mới ở niêm mạc dạ dày.

- Tăng cường máu đến niêm mạc dạ dày.

B. Thuốc là dẫn chất PROSTAGLANDIN:

Misoprostol (Cytotec, Fundyn)

- Chỉ định: ngừa VLDDTT do phải sử dụng dài hạn NSAID (Arthrotec: diclofenac + misoprostol).

- Tác dụng phụ: tiêu chảy, co thắt tử cung (CCĐ: phụ nữ có thai).

C. Sucralfat : Sucrose Aluminium sulfate:

Ulcar, Carafate, Sucrafar

- Nhờ acid dạ dàyà chất nhầy, dính chặt vào niêm mạc và bảo vệ.

- Liều: 1gx4/ngày. Nên uống 1 giờ truớc bữa ăn.

- Tác dụng phụ: táo bón.

D. Bismuth:

- Bismuth subsalicylat (Pepto - bismol)

- Tripotassium dicitrato bismuthate (De-nol, Trymo)

Kháng khuẩn Helicobacter pylori.

Thời gian dùng thuốc cách quãng

Tác dụng phụ: phân xám đen.



IV. CÁC THUỐC KHÁC:

- Thuốc an thần: Librax, Gastrobamat, sulpirid

- Thuốc tiêm: oxyferriscorbone sodique.

- Thuốc an thần chống stress: diazepam...

- Thuốc chống co thắt giảm đau: No-spa...


->Read More...

Viêm loét dạ dày - phần 1

Tất cả thông tin sau đây được tổng hợp từ nhiều nguồn, có giá trị tham khảo, không nên áp dụng nếu không có ý kiến bác sỹ! nếu bạn bị bệnh hãy tìm một bác sỹ!


Vai trò cảu HP và xét nghiệm tìm HP:




  1. Vai trò HP trong viêm loét dạ dày tá tràng:


Vi khuẩn H.Pylori gây viêm loét dạ dày cùng với các nguyên nhân khác như do ăn uống, stress. Vì vậy muốn điều trị viêm loét dạ dày do vi khuẩn H.Pylori phải xét nghiệm xác nhận sự có mặt của vi khuẩn này. Test xác nhận H.Pylori đơn giản, không tốn kém, nhưng nếu chưa có thì phải khai thác tiền sử để loại trừ nguyên nhân viêm loét dạ dày không do H.Pylori.


H.Pylori vào cơ thể, sẽ xâm nhập, di chuyển và gắn vào tế bào biểu mô trong lớp chất nhày của dạ dày, sản sinh ra enzym ureasem biến ure thành amoniac, carbonic; tạo ra môi trường gần trung tính để tồn tại. Vì thế, chúng né tránh được môi trường acid khá cao trong dạ dày, né tránh được các đáp ứng miễn dịch của cơ thể để gây bệnh.



Phát hiện về sự cư trú của Helicobacter pylori ở vùng ổ loét niêm mạc đã làm thay đổi đáng kể phương pháp phòng ngừa, chẩn đoán và điều trị PUD ( viêm loét mạn tính đường tiêu hóa). Liệu pháp cổ điển với các chất giảm tiết acid đơn thuần có tác dụng làm liền ổ loét đường tiêu hóa và điều trị duy trì liều thấp liên tục làm giảm tái phát xuống khoảng 20%/nǎm. Tuy nhiên, việc sử dụng các phác đồ kháng sinh đã được chấp nhận để diệt trừ H.pylori ở những bệnh nhân có H.pylori (+) đã tiệt trừ nhiễm khuẩn, làm lành ổ loét do nhiễm khuẩn, cũng như làm giảm tỉ lệ biến chứng do loét. Trị liệu cũng làm giảm nguy cơ tái phát loét do thuốc chống viêm phi steroid xuống dưới 10%/nǎm. Do đó, các hướng dẫn hiện nay kêu gọi sử dụng các phác đồ tiệt trừ cho hầu hết các bệnh nhân H.pylori (+) có ổ loét hoạt động. Vai trò của việc dùng các phác đồ kháng sinh tiệt trừ H.pylori ở những bệnh nhân rối loạn tiêu hóa không loét vẫn còn đang tranh cãi, mặc dù một số chuyên gia cho rằng việc tiệt trừ là hữu ích. Không khuyến nghị tiệt trừ H.pylori ở những bệnh nhân không có triệu chứng theo hướng dẫn hiện tại. Tùy theo phác đồ kháng sinh được chọn để điều trị ổ loét hoạt động mà dùng phối hợp liệu pháp chống tǎng tiết bằng chất ức chế bơm proton (PPI) hoặc chất chẹn H2 để làm liền ổ loét. Tuy nhiên, phác đồ dùng PPI điển hình đem lại tỉ lệ tiệt trừ vi khuẩn cao hơn chất chẹn H2, PPI ( proton pumb inhibitor) cũng làm lành ổ loét và giảm đau do loét nhanh hơn.



H.Pylori lây nhiễm qua chất nôn, nước bọt, phân. H.Pylori thâm nhập vào cơ thể, nhưng ở trẻ em có quá trình "tự thải trừ", đồng thời do bị tác động của nhiều kháng sinh (dùng chữa bệnh khác) nên rất hiếm khi gây bệnh; còn lứa tuổi trung niên, sẽ gây bệnh mạn, phải dùng kháng sinh mới loại trừ được. Việc điều trị vì thế phải gắn liền với giữ gìn vệ sinh, phòng tái nhiễm.

Tính acid của dạ dày không thuận lợi cho kháng sinh, nên phải dùng thuốc ức chế bơm proton để giảm sự tiết acid, tạo cho kháng sinh phát huy hiệu lực diệt trừ H.Pylori. Nếu uống kháng sinh và thuốc ức chế bơm proton riêng rẽ thì phải uống thuốc ức chế bơm proton trước. Còn trong viên kết hợp cả hai loại này thì đã có cách bào chế thích hợp để bảo vệ kháng sinh nên uống cùng lúc.

H.Pylori cũng có tính kháng thuốc như mọi vi khuẩn khác nên cần dùng ít nhất là hai loại (một cặp) kháng sinh để hạn chế kháng thuốc. Khi cặp kháng sinh này bị kháng thì buộc phải thay bằng cặp kháng sinh khác.

Trong các phác đồ điều trị đã nghiên cứu được chấp nhận (ở Mỹ cũng như ở châu Âu) thì người ta chỉ kết hợp hai kháng sinh thích hợp để tạo thành cặp, cặp đó chỉ tương thích với một số loại thuốc ức chế bơm proton. Liều lượng mỗi loại cũng được xác định. Việc điều chỉnh liều có thể mang lại hiệu quả với thuốc này nhưng có khi không mang lại hiệu quả với thuốc khác. Thời gian dùng phác đồ thay đổi tùy theo từng nước (trình bày ở phần dưới).

Nếu dùng đúng phác đồ điều trị H.Pylori, kết quả thu được thường từ 80-90%. Tuy nhiên cần lưu ý đến những trường hợp không hiệu quả do kháng thuốc, do quá trình tái nhiễm hoặc do cả nguyên nhân viêm loét không phải do vi khuẩn (như nói trên).


  1. Các xét nghiệm chần đoán HP:


1.1 Phát hiện trực tiếp

1.1.1 Phương pháp xâm lấn:

• Sinh thiết và mô học:

H.p được chẩn đoán trực tiếp trong mô từ mảnh sinh thiết lấy qua nội soivới nhuộm Giemsa. Độ nhạy phụ thuộc vào số mảnh sinh thiết, ít nhất là 2 mẫu sinh thiết lấy từ hang vị và thân vị.

- Urease testing:

H.pylori sinh ra số lượng lớn Urease ngọai bào có thể được xác định trong ít giờ với mảnh sinh thiết đặt trong môi trường chứa Urea. Độ nhạy của thí nghiệm dựa trên số lượng vi khuẩn trong mẫu sinh thiết và số lượng mẫu sinh thiết thường đạt ≈ 90%.

- Đánh giá mẫu (Smear evaluation)

Mẫu tế bào được gắn vào lame không cần cố định qua đêm bởi Formalin, được khảo sát trực tiếp bởi phương pháp nhuộm Gram hoặc Giemsa. Trong các nghiên cứu gần đây cho thấy trong 32 mẫu sinh thiết nuôi cấy (+) vớp H.pylori có 30 mẫu (+) với phương pháp này.

1.1.2. Phương pháp không xâm lấn:

- Phát hiện Antigen của H.pylori trong phân của bệnh nhân với kỹ thuật ELISA.

- Urea Breath Testing (UBT):

Bệnh nhân được uống một dung dịch chứa chất đồng vị gắn Urea. Với hoạt động của Urease trong dạ dày tạo chất đồng vị gắn carbon dioxide được hấp thụ và sinh ra bởi hơi thở của bệnh nhân sau 30 phút và được đo bằng quang phổ kế. Độ nhạy và đặc hiệu tuyệt vời >95%.



1.2 Thử nghiệm huyết thanh học




  • ELISA IgG H.pylori:


Một trong các thử nghiệm đang được áp dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới là thử nghiệm miễn dịch enzym phát hiện kháng thể IgG chống H.p. Đây là thử nghiệm không xâm lấn có độ nhạy và đặc hiệu cao liên quan đến nhiễm H.p hoạt động để phát hiện và sàng lọc H.pylori ở các bệnh nhân không có triệu chứng hoặc chưa có biến chứng, giúp cho việc chẩn đoán lâm sàng và dịch tể có cơ sở chắc chắn.


->Read More...

Chuyển Blog - Nghe nhạc vàng!

2 chuyện chả liên quan gì đến nhau! vì cái blog trên wordpress nó hạn chế nhiều quá kiếm cái host free đặt tạm cái blog lên vậy!
Chuyển xong blog thấy vui vui nhưng niềm vui qua mau , nỗi buôn ập đến, biết làm sao được!
Trời lạnh, ôn thi gấp, buồn, mệt mỏi, không ai quan tâm, cuộc đời còn gì để nuối tiếc nữa!
giã từ là xong thôi!



Giã Từ


Sáng tác: Ngô Quốc Linh
Trình bày: Như Ý

Tuổi đời chân đơn côi
Gót mòn đại lộ buồn
Đèn đêm bóng mờ nhạt nhòa
Hồn lắng tâm tư, đi vào dĩ vãng
Đường tình không chung lối
Mang nuối tiếc cho nhau

Ngày nào tay trong tay
Lối về cùng hẹn hò
Dìu em giấc mộng vừa tròn
Tình thắm duyên nồng, đêm dài lưu luyến
Nghẹn ngào trong thương tiếc
Vì mai bước theo chồng.

Em sang ngang rồi chôn kỷ niệm vào thương nhớ.
Hôn lên tóc mềm cho lệ sầu thắm ướt đôi mi
Xin em một lần cho ước nguyện tình yêu cuối
Thương yêu không trọn thôi giã từ đi em ơi

Người về lên xe hoa,
Kỷ niệm buồn vào hồn
Bờ môi tắt hẳn nụ cười
Giây phút bên nhau nay còn đâu nữa
Người về trong thương nhớ
Người đi nhớ thương người ->Read More...